Chuyện tram nam

Description
Chuyện tram nam

Please download to get full document.

View again

of 26
All materials on our website are shared by users. If you have any questions about copyright issues, please report us to resolve them. We are always happy to assist you.
Information
Category:

Tort Law

Publish on:

Views: 0 | Pages: 26

Extension: PDF | Download: 0

Share
Tags
Transcript
  Chuyện trăm năm   Cư an mà chẳng tư nguy...   Nguyễn - Xuân Nghĩa   Cứ đến hết năm, cuối một chu kỳ 12 tháng, người ta lại kiểm điểm quá khứ để dự đoán tương lai dù tương lai không nhất thiết tái lập chuyện cũ.   “Lịch sử không để lại bài học nào, mà lại trừng phạt rất nặng những ai không hiểu lịch sử”, hình như một tác giả người Nga nói như vậy. Vì càng nhìn sâu vào quá khứ càng dễ tìm ra một vài bài học, vào dịp cuối năm chúng ta cố nhìn xa hơn chu kỳ một năm.   Sao không nói chuyện trăm năm?   Trăm năm về   trước, thế giới bất ngờ lao vào một trận đại chiến khiến chín triệu người chết từ 1914 đến 1918. Sau đó là nhiều thiệt hại nhân mạng khác, ở nơi khác. Cuối năm 1913, một người viết bình luận tại thủ đô thế giới thời đó là London đã nhìn thấy gì và có thể viết những gì?   Nhà bình luận không dám viết là sẽ có “Thế Chiến I”, trong ý nghĩa là sẽ có đại chiến thế giới - rồi sau đó lại còn Thế Chiến II vào năm 1939! Sáng suốt hơn thì cũng xoay viễn vọng kính về quá khứ để nói chuyện trăm năm.   Trăm năm trước đó, đầu thế kỷ 19, Âu Châu vừa bị xuất huyết về cuộc binh đao thời Napoléon nên tìm đường hòa giải. Các nước không nhắm vào nhau mà cùng nhìn về một hướng, cùng phát triển thuộc địa. Ðây đó mà có chiến trận thì cũng là ở xa, mãi tận Viễn Ðông. Vậy mà chiến tranh Pháp Phổ vẫn bùng nổ vào năm 1870. Rút tỉa bài học, các nước đều đồng ý rằng khi đã là bạn hàng thì chẳng ai rút gươm nã đạn vào két bạc. Nhờ vậy mà các nước Âu Châu đã khôn ngoan buôn bán với nhau.   Nhìn từ thủ đô London vào năm 1913, kinh tế Âu Châu đã nhất thể hóa - chữ toàn cầu hóa chưa được phát minh. Thương thuyền, tàu hỏa và cả đường dây diện thoại, tổ tiên của hệ thống Internet thời nay, cứ rộn ràng liên lạc với nhau. Cho nên, sau nhiều lầm lẫn và chiến chinh, năm 1913 mọi người đều có thể nghĩ rằng “thiên hạ thái bình” là chân lý.   Chỉ một năm sau thôi, toàn cầu bốc khói! Thế Chiến I chưa kết thúc thì Ðế quốc Nga đổi chủ qua “Cách mạng Tháng 10” vào năm 1917. Nước Ðức đại bại bị ép thì dựng lại sức bật trên nền móng khác. Việc hồ hởi tái thiết tại Hoa Kỳ cũng thổi lên bong bóng và khủng hoảng 1929 kéo dài đã tạo điều kiện cho Thế Chiến II...   Nghĩa là trăm năm về trước, bình luận gia ở London đã đoán trật. Sau đó, nước Anh nhường ngôi bá chủ cho Hoa Kỳ. Thế giới chuyển trục từ Âu qua Mỹ.  T ại nước Mỹ này, một nhà bình luận vào năm 1913 thì thấy những gì và tiên đoán ra sao?   Nhớ lời tổ phụ, đừng dây vào thiên hạ sự ở bên đó, nước Mỹ rạch ròi viết ra chủ thuyết Monroe, “Mỹ Châu là của người Mỹ”. Tây bán cầu hay cả lục địa Trung - Nam Mỹ là vùng ảnh hưởng của Hoa Kỳ, các nước Âu Châu xin đừng bén mảng. Không chỉ tránh xa Âu Châu, Hoa Kỳ nhìn qua Châu Á và gõ cửa Nhật Bản bằng pháo hạm vào năm 1853. Quả nhiên là Nhật phải mở cửa canh tân thời Minh Trị.      Nhưng trong khi nước Nhật vươn lên thì Hoa   Kỳ lại rơi vào trận Nội chiến thảm khốc nhất lịch sử còn son trẻ của xứ này. Chuyện thiên hạ, xin cứ để đó vì nước Mỹ cần tự hòa giải với chính mình và hoàn tất cuộc cách mạng kỹ nghệ.   Vào thời ấy có nhà bình luận nào tại Hoa Kỳ dám ngờ là chỉ vài chục năm sau, Nhật Bản đã khai chiến và đánh bại Ðế quốc Trung Hoa của nhà Mãn Thanh trong trận chiến Giáp Ngọ 1894? Rồi 10 năm sau thì Nhật đánh tan Hạm đội Nga ở Eo biển Ðối Mã trong trận hải chiến mà các sử gia Âu Châu gọi là có tầm quan trọng tương tự như trận Trafalgar đúng trăm năm trước.   Chiến thắng đó của Nhật đã mở ra hy vọng cho Châu Á da vàng, dẫn tới Phong trào Ðông Du tại Việt Nam và Cách mạng Tân Hợi tại Trung Quốc. Nhưng với nước Mỹ, đấy là chuyện quá xa, dù là nhìn từ Hawaii. Vì thế giới hỗn mang như vậy, nên người Mỹ của trăm năm trước không muốn và cũng chẳng tin là mình sẽ can dự vào một cuộc chiến nữa tại Âu Châu. Vào cuối năm 1913, họ cũng đoán sai như vị đồng nghiệp ngồi ở London.   Mà chúng ta nên e là người Mỹ ngày nay chẳng khá hơn các bậc tiền bối của trăm năm về trước.   Sau Thế Chiến I, từ vòng ngoài của trung tâm thế giới là Âu Châu, Hoa Kỳ vượt lên thành đại cường trước sự tan rã của các Ðế quốc Hung -  Áo, Ðức, Nga, Ottoman. Nhưng ít ai tin là nước Ðức lại nổi lên thống trị Âu Châu và bắt tay với Ðế quốc Xô Viết trong Thế Chiến II. Chẳng ai đoán là Hoa Kỳ dân chủ lại kết hợp với Liên Xô Cộng Sản để đánh gục nước Ðức và nhường phân nửa Âu Châu cho Stalin.   Cũng ít ai ngờ là bên kia biển Thái Bình, Ðế quốc Nhật lại tấn công hạm đội Hoa   Kỳ vào cuối năm 1941. Vì thế, cũng ít ai tin rằng Hoa Kỳ sẽ giội bom nguyên tử lên đầu nước Nhật rồi hợp tác với Ðức với Nhật như đồng minh chiến lược trong suốt thời Chiến Tranh Lạnh, cho đến ngày Liên Xô tan rã, Âu Châu tái thống nhất thành một khối với   nước Ðức là cốt lõi.   Như giới bình luận Anh thời trước, rút tỉa các bài học bất ngờ của lịch sử trong thế kỷ 19, Hoa Kỳ ngày nay cũng tin rằng đã buôn bán với nhau thì chẳng ai muốn gây chiến. Kinh tế toàn cầu hóa là giải pháp khôn ngoan. Quả thật là vào thời điểm 2014, chiến tranh khó tái diễn vì Nga Tàu Nhật gì thì cũng đầu tư buôn bán với Âu - Mỹ và với nhau. Chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa hiếu hòa và doanh gia là thành phần phản chiến nhất!   Nhưng còn thế giới Hồi Giáo?   Sau chục năm can dự lung tung, Hoa Kỳ đã ra khỏi Iraq và sẽ rút khỏi Afghanistan vào cuối năm 2014, và đánh câu đại xá để các nước giải quyết lấy xung đột của họ, từ Syria qua Lebanon, từ Libya tới Iran. Hoa Kỳ cười cầu tài và treo miễn chiến bài với thiên hạ. Vào dịp cuối năm, người   Mỹ càng thấy rằng việc đó là đúng.    Các nước kia, từ Egypt đến Lebanon hay Liên bang Nga, bị khủng bố Hồi Giáo đánh bom tự sát hay Trung Quốc ra tay đàn áp tộc Hồi tại Tân Cương càng khiến Hoa Kỳ muốn gom quân kéo về và hòa giải với mọi cường quốc gần xa . Nhưng đấy mới là mầm loạn và chiến tranh càng dễ xảy ra, như trăm năm về trước.   Trong thế giới cứ gọi là toàn cầu hóa và thịnh vượng, có nhiều nước không được thịnh vượng và còn chối bỏ quy cách làm ăn toàn cầu. Chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa duy vật không có giá trị tâm linh và phải bị đánh đổ. Khủng bố Hồi Giáo nằm trong mạch lý luận đó và với chủ trương “Thánh Chiến” còn khơi dậy tinh thần quốc gia dân tộc trong từng cộng đồng Hồi Giáo.   Trong thế giới phồn vinh còn lại, nhiều người cũng thất vọng với kinh tế tự do và thiên về giải pháp bảo hộ mậu dịch. Ðèn nhà nào nhà ấy rạng, mạng người nào người ấy giữ. Và chủ nghĩa quốc gia dân tộc đang được khai thác để phá vỡ hội nhập, như tại Âu Châu.   Hoặc để giành lại quyền tự trị, quyền độc lập, như tại Nga, hay bên Tàu. Ngay tại Ðông Á, hai cường quốc lớn nhất là Trung Quốc và Nhật Bản đều thi đua ái quốc bằng hạm đội ngoài biển...   Thế Chiến I bùng nổ tại Âu Châu không vì một đại công tước bị ám sát trong vùng Balkan mà vì chủ nghĩa quốc gia đã tạo ra nhiều chuyển động ngầm dưới mấy tầng địa chất của thời sự phù du.   Những gì đang xảy ra ngày nay, trước sự thản nhiên của nước Mỹ, không nhất thiết dẫn tới chiến tranh. Nhưng ai đảm bảo là mình đoán đúng?   Cư an mà không tư nguy là sẽ gặp nguy?  Nguyen Xuan Nghia. Bài học của Thế Chiến Thứ Nhất   Lê Mạnh Hùng.   Năm 2014 là năm kỷ niệm một trăm năm Thế Chiến Thứ Nhất. Cách đây ba mươi năm người ta không lưu ý bao nhiêu đến cuộc chiến này.    Nhưng những năm gần đây sự chú ý của các sử gia và những   nhà nghiên cứu đối với cuộc đại chiến thế giới đầu tiên của nhân loại đã ngày càng nhiều, đặc biệt là tại các nước thuộc Bắc Âu và thế giới nói tiếng Anh. Các cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan đã đóng góp nhiều vào việc làm hồi sinh những chú ý này. Ng oài ra thế giới càng ngày càng trở nên tương tự với thế giới - ít nhất là tại phương Tây - của năm 1914, không còn là một thế giới bị phân chia giữa hai siêu cường vũ trang đến tận răng các vũ khí hạch tâm mà là một thế giới đa cực trong đó Hoa Kỳ đóng vai    Anh và Trung Quốc đóng vai Ðức.   Giống như thế giới hiện nay, kể từ sau năm 1945 thế giới sống trong một tình trạng tương đối thái bình, phương Tây, trong gần một trăm năm kể từ trận đánh Waterloo chấm dứt cuộc chiến tranh Napoleon, cũng sống trong một tình trạng tương đối thái bình. Cố nhiên là không phải hoàn toàn.   Trong thời gian này có một cuộc nội chiến khủng khiếp tại Mỹ, một số cuộc chiến tranh ngắn ngủi tại Châu Âu như cuộc chiến Pháp - Phổ cũng như là vài cuộc chiến xâm lược thuộc địa tại Châu    Á, nhưng nói chung hòa bình là tình trạng phổ biến.   Bên cạnh đó, tiến trình toàn cầu hóa và tiến bộ kỹ thuật - máy điện thoại, hỏa xa, tàu chạy hơi nước - đã cắt giảm mạnh thời gian di chuyển và nối liền các vùng của thế giới với nhau.  John Maynard Ke ynes đã mô tả hình ảnh huy hoàng của một người dân Luân Ðôn vào lúc đó “uống ly trà buổi sáng trên giường” và đặt mua “những sản phẩm khác nhau của toàn thế giới” để được giao đến trước cửa nhà mình giống như chúng ta hiện nay mua hàng của Amazon.com vậy. Và ông cũng coi chuyện này như là “chuyện bình thường, chắc chắn và vĩnh cửu” chỉ có cải thiện chứ không giảm sút. Và người dân Luân Ðôn này của ông Keynes chắc hẳn là trên đầu giường còn có cuốn sách - lúc đó đang được lưu hành mạnh mẽ - của Norman Angell   “The Great Illusion” vốn biện luận rằng Châu Âu không thể nào còn xảy ra chiến tranh được vì nền kinh tế của các nước này đã quyện vào nhau đến nỗi một cuộc chiến là vô ích.   Thế nhưng chỉ trong vòng một năm, cả thế giới bị rơi vào một cuộc chiến tranh khủng khiếp. Nó làm chết 9 triệu con người chưa kể hàng chục triệu người khác chết vì những hậu quả mà nó để lại, từ việc thành lập ra Liên Bang Xô Viết tại Nga, việc vẽ lại bản đồ vùng Trung Ðông và sự nổi lên của Hitler. Thay vì mang lại tự do hạnh phúc, kỹ thuật trở thành công cụ của tàn bạo, giúp một thiểu số có thể nô lệ hóa và tàn sát con người ở một mức độ lớn hơn nhiều so với thời xưa.   Các hàng rào được lập ra trên khắp thế giới, đặc biệt là trong thời Ðại Khủng Hoảng của những năm 1930. Tiến trình   toàn cầu hóa mà Keynes ca tụng chỉ trở lại vào đầu những năm 1990 khi thế giới Xô Viết sụp đổ và những cải cách của ông Ðặng Tiểu Bình bắt đầu có kết quả tại Trung Quốc.   Lực đẩy dẫn đến thảm trạng này là tham vọng của Ðức vốn vào những năm đầu của thế kỷ 20 đã vượt quá Anh về phương diện kinh tế trở thành cường quốc kinh tế lớn nhất Châu Âu. Tham vọng của Ðức là bằng mọi cách - kể cả chiến tranh - làm sao đạt được địa vị chi phối Châu Âu. Nhưng bên ngoài  Ðức, sự tự mãn và thiển cận của các nước khác cũng   đóng một phần quan trọng. Quá nhiều người, tại  Luân Ðôn, Paris và những nơi khác tin rằng vì Anh và Ðức là hai nước bạn hàng lớn nhất của nhau không có một lý luận kinh tế nào cho phép chiến tranh xảy ra cả.   Như Keynes viết “Những dự án và ý tưởng chính   trị của chủ nghĩa quân phiệt, đế quốc, về những tranh chấp chủng tộc, văn hóa, của sự độc quyền và ngăn cấm mà sẽ đóng vai con rắn trong vườn Ðịa  Ðàng... chỉ bị coi như là những mẩu chuyện vui trong báo hàng ngày của người dân Luân Ðôn.”   Người ta có thể   học được từ những lỗi lầm của quá khứ như những phản ứng đối với cuộc khủng hoảng vừa qua vốn sử dụng những bài học rút ra được từ những lỗi lầm của thời Ðại Khủng Hoàng. Ngoài ra, sự khủng khiếp của một cuộc chiến toàn diện hiện đại với các vũ khích hạch   nhân là một cản trở quan trọng đối với những ý đồ tham vọng vốn dẫn đến việc hy sinh một thế hệ thanh niên Châu Âu ngoài bãi chiến trường.   Nhưng những tương tự giữa hiện nay và quá khứ vẫn là những điều đáng lo ngại. Hoa Kỳ đóng vai  Anh Quốc, một siêu cường đang trên đà đi xuống không còn đủ mạnh để chi phối toàn bộ an ninh thế giới. Bạn hàng lớn nhất của Mỹ, Trung Quốc, đóng vai trò Ðức Quốc, một cường quốc kinh tế đang lên tràn đầy những tham vọng quốc gia và ước muốn tẩy rửa những tủi nhục của quá khứ . Nhật Bản là Pháp, một đồng minh của nước bá quyền và có những cựu thù với nước có tham vọng bá quyền mới. Những tương tự này cố nhiên không toàn bộ chính xác. Trung Quốc còn chưa có một ai như Hoàng Ðế Ðức Wilhelm II và ngân sách quân sự của Mỹ vượt xa   hơn ngân sách của đế quốc Anh, nhưng nó cũng gần giống đủ để làm người ta e ngại.    Ðiều tương tự làm người ta quan ngại nhất giữa năm 1914 và hiện này là tình trạng tự mãn. Những nhà doanh nghiệp hiện nay cũng giống như những nhà doanh nghiệp thời đó, quá bận rộn làm tiền để có thể để ý đến những con rắn đang thè lưỡi nhỏ nọc độc ở dưới chân họ. Các nhà chính trị đang chơi trò chơi nguy hiểm khơi dậy tinh thần dân tộc giống như họ đã làm cách đây 100 năm.   Trung Quốc đang khích động tinh thần bài Nhật, dùng nó như là chiêu bài để cải tổ kinh tế trong khi Nhật cũng đang dùng nguy cơ Trung Hoa vào mục tiêu tương tự.   Có nhiều hy vọng rằng những sự tương tự đó không dẫn thế giới đến một cái gì tương đương với những khủng khiếp của năm 1914. Những khùng điên, dù rằng phát xuất từ những lý do chủng tộc, hoặc tôn giáo thông thường cuối cùng cũng bị khuất phục bởi lý trí   . Nhưng khi chúng thắng thế, chúng dẫn đến những tai họa khổng lồ, thành ra nếu cứ nhất nhất cho rằng lý trí sẽ chiến thắng là một sơ suất nghiêm trọng. Và đó là bài học của cuộc chiến xảy ra cách đây một trăm năm.   Lê Mạnh Hùng.  
Related Search
We Need Your Support
Thank you for visiting our website and your interest in our free products and services. We are nonprofit website to share and download documents. To the running of this website, we need your help to support us.

Thanks to everyone for your continued support.

No, Thanks